Giỏ hàng

Ðột phá trong công bố quốc tế của Việt Nam

Hai năm trở lại đây, số lượng bài báo khoa học của Việt Nam được công bố quốc tế đã vượt giai đoạn 2011 - 2015. Tuy nhiên, so với một số nước trong khu vực như: Thailand, Malaysia, Singapore, số lượng công bố quốc tế của Việt Nam vẫn còn khoảng cách khá xa. Mặt khác, tính độc lập trong nghiên cứu cũng như chỉ số ảnh hưởng các công trình khoa học còn hạn chế.

Sinh viên Trường đại học Khoa học và Công nghệ Hà Nội (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam) thực hành bào chế thuốc.

Giáo sư, TSKH Nguyễn Ðình Ðức (Ðại học Quốc gia Hà Nội) cho biết: Theo thống kê chưa đầy đủ, trong hai năm qua (2017 và 2018), 30 trường đại học hàng đầu Việt Nam đã có hơn 10.510 bài (còn gọi là công trình khoa học) được công bố trên các tạp chí chuyên ngành quốc tế. Theo các nhà khoa học, đây là kết quả của sau 5 năm thực hiện Nghị quyết 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế. Phần lớn các trường có sự chuyển biến mạnh mẽ về chương trình đào tạo, chất lượng cơ cấu nguồn nhân lực và từng bước hội nhập theo chuẩn mực quốc tế. Trước đây, hoạt động đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học thường chỉ được chú trọng ở một số trường lớn có bề dày, như: Ðại học Quốc gia Hà Nội, Ðại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, Ðại học Bách khoa Hà Nội,… nhưng gần đây, công tác đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học đã được triển khai ở hầu hết các trường đại học trong cả nước.

Ðến nay, trong hệ thống các trường đại học, đã có khoảng 950 nhóm nghiên cứu, đáng chú ý, các trường đại học ngoài công lập như Trường đại học Duy Tân cũng hình thành nhóm nghiên cứu mạnh để hằng năm có các công trình được công bố (năm 2017, đơn vị này có 340 công trình đạt chuẩn ISI được công bố). Những năm gần đây, không ít nghiên cứu sinh trong nước thuộc Ðại học Quốc gia Hà Nội hay các trường đại học: Bách khoa Hà Nội, Tôn Ðức Thắng… khi bảo vệ luận án tiến sĩ đều đã có công bố quốc tế ISI/ Scopus. Ðồng thời, các trường đại học xác định, trong quỹ đạo hội nhập quốc tế, nghiên cứu khoa học trở thành nhiệm vụ chính của giảng viên và sinh viên. Một số trường đại học: Kinh tế TP Hồ Chí Minh, FPT, Tôn Ðức Thắng, Công nghiệp TP Hồ Chí Minh… đưa ra mức thưởng cho mỗi công bố quốc tế 30 triệu đồng đến 200 triệu đồng. Có thể nhận thấy, sự gia tăng các công bố quốc tế tỷ lệ thuận với sự gia tăng các nhóm nghiên cứu trong các trường đại học .

Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ (KH và CN) Việt Nam luôn là đơn vị đứng đầu cả nước trong công tác nghiên cứu cơ bản. Năm 2018, các công trình công bố của Viện tăng cả về số lượng và chất lượng với 2.096 công trình (tăng 14,5%), trong đó có 984 công trình trên các tạp chí quốc tế (tăng 10,8% so với năm 2017). Số công trình công bố trên các tạp chí uy tín trong danh mục ISI là 735 công trình (tăng 6,8%), trong số đó nhiều công trình được đăng trên các tạp chí có chỉ số ảnh hưởng cao. Nhiều công trình được đánh giá cao, được trao nhiều giải thưởng trong nước và quốc tế. Trung bình mỗi năm, một cán bộ khoa học của Viện công bố được một công trình và mỗi tiến sĩ công bố một công bố quốc tế. Ðây là tỷ lệ tiệm cận với các nước tiên tiến có nền khoa học phát triển. Những kết quả đạt được cho thấy, nghiên cứu cơ bản của Viện Hàn lâm KH và CN Việt Nam nói riêng và của Việt Nam nói chung đã được quốc tế đánh giá cao và khẳng định được vị trí trong khu vực.

Có được sự "tăng trưởng" về công bố quốc tế thời gian qua, một phần nhờ sự đầu tư của Nhà nước, thông qua Quỹ phát triển Khoa học và Công nghệ quốc gia (Nafosted). Với phương châm minh bạch, khách quan, đơn giản hóa thủ tục và khuyến khích sáng tạo, thời gian qua, Quỹ Nafosted đã trở thành "chất xúc tác" cho hàng nghìn lượt nhà khoa học thuộc các trường đại học, viện nghiên cứu trong cả nước hoạt động. Quỹ yêu cầu thời gian thực hiện đề tài từ hai đến ba năm, suất đầu tư trung bình 700 đến 800 triệu đồng/ đề tài, khi kết thúc nghiệm thu đề tài phải có hai bài báo được công bố trên tạp chí quốc tế, đạt chuẩn ISI… đã khích lệ các nhà khoa học trên mọi lĩnh vực say mê sáng tạo. Số lượng công bố quốc tế tăng lên đáng kể hằng năm cho thấy đầu tư của Quỹ Nafosted là đúng hướng, hiệu quả. Bên cạnh đó, Viện Hàn lâm KH và CN Việt Nam triển khai Chương trình hỗ trợ nghiên cứu viên cao cấp với mục tiêu hỗ trợ nghiên cứu, phát triển các hướng nghiên cứu chuyên ngành sâu, tạo lập nhóm nghiên cứu. Năm 2018, Viện đã tiến hành hỗ trợ cho 74 nghiên cứu viên cao cấp, tổng kinh phí 10 tỷ đồng. Các nhiệm vụ hỗ trợ đều được triển khai thực hiện có hiệu quả, bước đầu đạt được những kết quả đáng khích lệ.

Tuy số lượng công bố quốc tế của Việt Nam tăng lên đáng kể nhưng so với các quốc gia Ðông - Nam Á, vẫn còn khoảng cách khá xa, chẳng hạn công bố quốc tế của Thailand gấp ba lần Việt Nam, Malaysia gấp bốn lần và Singapore gấp năm lần. Một hạn chế khiến không ít nhà khoa học băn khoăn là nghiên cứu khoa học - công nghệ ở nước ta, nhất là khối trường đại học còn phụ thuộc nhiều vào "ngoại lực" bởi có đến 60% công trình được công bố đứng tên chung hoặc hợp tác với người nước ngoài. Lĩnh vực khoa học xã hội còn ít các bài báo được công bố quốc tế. Thời gian qua, có hiện tượng "chạy" tiến độ, thời gian nghiệm thu đề tài, đã có những bài báo được can thiệp để đăng bài sớm, khiến chỉ số ảnh hưởng của công trình khoa học đạt thấp. Dù hiện tượng này là số ít nhưng cũng cần cảnh báo, ngăn chặn, từ đó bảo đảm uy tín, chất lượng của các công bố quốc tế.

Để tìm hiểu thêm thông tin về Dịch vụ Công bố và Xuất bản quốc tế của Công ty Cổ phần IP VISION cùng các sản phẩm công nghệ quốc tế liên quan, vui lòng liên hệ số hotline 038 818 4413 để nhận được tư vấn và hỗ trợ cần thiết

Nguồn: https://nhandan.com.vn/khoahoc-congnghe/item/38954602-%C3%B0ot-pha-trong-cong-bo-quoc-te-cua-viet-nam.html

-----------------------------------------------------------
IP VISION - Nâng tầm tri thức Việt Nam
Hãy liên hệ và hợp tác với chúng tôi, cùng nhau chúng ta “Nâng tầm tri thức Việt Nam”